Theo PGS.TS. LÊ KHẮC CƯỜNG
VẤN ĐỀ CHỮ VIẾT CỦA CÁC NGÔN NGỮ DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Ở VIỆT NAM
1. Như nhiều nước khác tại châu Á, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với số dân trên 13 triệu người, chiếm khoảng 14,3% dân số cả nước. Trước thực tế này, ngay từ khi mới giành được độc lập, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện một chính sách dân tộc – ngôn ngữ đúng đắn, tôn trọng sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, tạo mọi điều kiện để tiếng nói và chữ viết của bà con được phát triển. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1960 đã khẳng định: "Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hoá dân tộc mình". Quyết định 53/CP ngày 22/02/1980 của Chính phủ viết: "Tiếng nói và chữ viết hiện có của các dân tộc thiểu số được Nhà nước tôn trọng, duy trì và giúp đỡ phát triển. Các dân tộc thiểu số chưa có chữ viết đều được giúp đỡ xây dựng chữ viết theo chữ La tinh". Luật Phổ cập tiểu học ngày 16/8/1991 viết: "Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học". Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định: "Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình". Điều 7, Luật Giáo dục năm 2005, quy định về “Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ” viết : “1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướng Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; 2. Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ”.
2. 54 dân tộc đang sinh sống trên đất nước Việt Nam đều có tiếng nói riêng, hơn 50% dân tộc có chữ viết riêng, trong đó có những hệ thống chữ viết cổ lẫn những hệ thống chữ viết mới được xây dựng theo mẫu tự Latin. Các hệ thống chữ Khmer, Chăm, Thái có nguồn gốc từ chữ Pali, Sanskrit ở miền Nam Ấn Độ. Chữ Nôm Tày, Nôm Nùng, Nôm Dao, Nôm Cao Lan,... được xây dựng từ chữ Hán. Những hệ thống chữ viết vừa nêu chủ yếu được thể hiện trong các văn bản cổ và chỉ có một số ít người lớn tuổi có thể đọc được, viết được.
Ở miền Bắc, khoảng 20 hệ thống chữ viết mới được xây dựng vào cuối thế Kỷ XIX đến nay theo hệ thống chữ Latin (chữ Roman), và hầu hết đều theo cách ghi của chữ Quốc ngữ Latin. Sở dĩ có hiện tượng dựa theo cách ghi của tiếng Việt vì chữ Quốc ngữ Latin là một hệ thống chữ viết ghi âm cũng mới được hình thành vào giữa thế kỷ XVII, khá thuận lợi để ghi âm các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, âm tiết tính và có thanh điệu. Tuy nhiên mới chỉ có ba hệ thống chữ viết thuộc loại này được chính thức công nhận để phổ cập ở miền Bắc: chữ Tày–Nùng, chữ Hmông, chữ Thái Latin hoá.
Ở miền Nam, các nhà khoa học Pháp, Hoa Kỳ, Nga, Việt Nam từ thế kỷ XIX đến nay đã cố gắng xây dựng nhiều bộ chữ viết theo hệ thống chữ Latin và phần lớn cũng dựa trên cơ sở cách ghi của tiếng Việt. Từ năm 1861, các giáo sĩ người Pháp đã xây dựng hệ thống chữ Bahnar. Tiếp theo là 2 bộ chữ Jarai (1918) và Êđê (1923) giống bộ chữ Bahnar. Ngày 2.12.1935, Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định công nhận hệ thống chữ viết bằng mẫu tự Latin dùng chung cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Bộ chữ này được sửa chữa nhiều lần và thường được gọi là chữ Êđê do được dùng rộng rãi trong cộng đồng người Êđê, một trong những dân tộc có dân số đông nhất Tây Nguyên. Có thể nói bộ chữ này vừa tiếp cận với những thành tựu của ngữ âm học, vừa gần gũi với tiếng Việt. Hầu hết các hệ thống chữ viết ở khu vực phía Nam được xây dựng sau này đều dựa ít nhiều vào hệ thống chữ viết tiếng Êđê.
Ở miền Nam, từ cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Ngữ học mùa hè (Summer Institute of Linguistics - SIL) của Mỹ bắt đầu khảo sát ngôn ngữ các dân tộc thiểu số từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào. Kết quả của chương trình nghiên cứu này là hàng loạt sách dạy tiếng, sách công cụ, Kinh thánh bằng các tiếng dân tộc như Êđê, Chăm, Raglai, Churu, Jrai, Kơho, Mnông, Stiêng, Mạ, Chrau, Sedang, Bru – Vân Kiều,... được phổ biến. Nhiều lớp đào tạo giáo viên dân tộc thiểu số được tổ chức. Tháng 10.1963, SIL phối hợp với Bộ Giáo dục chính quyền Sài Gòn và Trường Đại học Dakota (Mỹ) nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền Nam với mục đích biên soạn chương trình giáo dục song ngữ trong các cộng đồng dân tộc thiểu số. SIL đã triển khai mạnh mẽ dự án “Song ngữ: một nhịp cầu nối liền hai nền văn hoá Kinh - Thượng”. Ở các tỉnh thành tại miền Nam, tiêu biểu là tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nhiều chương trình giáo dục song ngữ tiếng Việt – tiếng dân tộc thiểu số đã được triển khai từ lớp vỡ lòng đến tiểu học. 22 ngôn ngữ dân tộc thiểu số, trong đó có nhiều ngôn ngữ Môn - Khmer (Sedang, Halang, Jeh, Bahnar, Kơho, Mnông, Stiêng, Chrau, Katu, Bru) và Malayo – Polynesian (Chăm, Êđê, Jarai, Churu, Raglai, Hroi) đã xây dựng được chương trình giáo dục song ngữ. Có thể nói đây là thời gian mà các chương trình giáo dục song ngữ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số được tiến hành rầm rộ nhất tại Việt Nam và thu được những kết quả khích lệ. Để có được những ngữ liệu chính xác trong thời gian nhanh nhất, SIL cử 1 – 2 nhà nghiên cứu cùng ăn, cùng ở với bà con để khảo sát sâu một ngôn ngữ trên tất cả các bình diện ngữ âm, từ vựng – từ điển, ngữ pháp; chẳng hạn David D. Thomas – tiếng Chrau, Ralph Haupers và Lorrain Haupers – tiếng Stiêng, Kenneth D. Smith – tiếng Sedang, Richard L. Phillips – tiếng Hrê, …Ngoài việc xây dựng/cải tiến chữ viết, các nhà ngôn ngữ học của tổ chức SIL còn biên soạn rất nhiều từ điển đối chiếu tiếng dân tộc thiểu số - tiếng Việt/tiếng Anh. SIL cũng công bố nhiều công trình nghiên cứu, luận văn về ngôn ngữ dân tộc ít người tại Việt Nam trên tạp chí Mon-Khmer Studies. Năm 1975, Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam và SIL cũng chính thức chấm dứt hoạt động của mình ở đây. Các nhà ngữ học của SIL vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu của mình nhưng chủ yếu là xuất bản các công trình đã viết trước đây, và dịch/in Kinh thánh đạo Tin Lành bằng các bộ chữ Latin hoá mà họ đã xây dựng.
3. Cho đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã xây dựng được một số chương trình giáo dục song ngữ đưa vào giảng dạy trong các trường tiểu học và trường phổ thông dân tộc nội trú là: 1) Chương trình tiếng Khmer (tại các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Vĩnh Long, Cà Mau...) ; 2) Chương trình tiếng Chăm cổ truyền Akhar Thrah (tại hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận); 3) Chương trình tiếng Chăm Ja Wi (tại hai tỉnh An Giang, Tây Ninh); 4) Chương trình tiếng Hoa (tại Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Bạc Liêu...); 5) Chương trình tiếng Êđê (tại tỉnh Đắc Lắc); 6) Chương trình tiếng Jarai (tại tỉnh Gia Lai); 7) Chương trình tiếng Bahnar (tại các tỉnh Kon Tum, Gia Lai); 8) Chương trình tiếng Kơho (tại tỉnh Lâm Đồng) ; 9) Chương trình tiếng Hmông (tại các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu). Việc dạy và học tiếng dân tộc trong các trường phổ thông dân tộc nội trú dù còn nhiều khó khăn song bước đầu đã đào tạo được một số lượng khá lớn học sinh dân tộc thiểu số biết sử dụng cả tiếng Việt lẫn tiếng mẹ đẻ. Các học sinh này sau khi tốt nghiệp là những hạt nhân tích cực trong các hoạt động thông tin, giáo dục,…. Họ cũng đóng góp tích cực vào việc sưu tầm, tuyển chọn các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc mình, bổ sung vào kho tàng văn học dân gian của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nhiều tác phẩm văn học dân gian đã được xuất bản với sự hợp tác của các trí thức, nghệ nhân dân tộc thiểu số, được in bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc hoặc song ngữ. Nhiều tờ báo được in, nhiều đài phát thanh, đài truyền hình phát sóng bằng tiếng dân tộc đã tạo điều kiện thuận lợi để phổ biến và phát triển các ngôn ngữ này. Các đài phát thanh, đài truyền hình quốc gia ngày càng có thêm nhiều các chương trình bằng tiếng dân tộc thiểu số. Hiện nay, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát thanh các tiếng dân tộc Hoa, Khmer, Chăm, Mông, Bahnar, Thái,...Từ năm 2006, Đài Tiếng nói Việt Nam triển khai dự án mở rộng mạng phủ sóng phát
thanh các chương trình văn hóa - xã hội và các chương trình bằng tiếng dân tộc khu vực trung du miền núi Bắc Bộ. Ban Truyền hình dân tộc (chương trình VTV5) cũng đã phát nhiều thứ tiếng là Hoa, Khmer, Chăm, Hmông, Thái, Êđê, Sedang,... chưa kể hàng chục chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc trên các đài phát thanh, truyền hình của các địa phương. Có thể thấy, cùng với chữ viết phổ thông (chữ Quốc ngữ), chữ viết các dân tộc anh em đang chứng tỏ vai trò của mình tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc, xây dựng cuộc sống mới, phổ biến kiến thức trồng trọt, chăn nuôi, vệ sinh, bảo vệ
rừng,...
4. Thông qua tình hình xây dựng và phổ biến chữ viết của các dân tộc thiểu số hiện nay ở cả hai miền Nam, Bắc, chúng tôi thấy có một số vấn đề đáng lưu ý như sau:
4.1 Hê thống ngữ âm của các ngôn ngữ thiểu số đang được sử dụng tại Việt Nam là tương đối giống nhau. Ngay sự khác biệt giữa các ngôn ngữ ở miền Bắc và miền Nam cũng không phải là quá lớn (về cơ bản, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền Bắc chủ yếu là đơn tiết, có thanh điệu; ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền Nam chủ yếu là đa tiết, chưa hoặc gần như chưa có thanh điệu, và có nhiều tổ hợp phụ âm). Thế nhưng, do không có sự điều phối chung nên nảy sinh hiện tượng “trăm hoa đua nở” trong việc xây dựng chữ viết cho các ngôn ngữ dân tộc thiểu số! Hầu như mỗi ngôn ngữ có một hệ thống chữ viết riêng. Các bộ chữ này có chỗ giống nhau, nhưng chỗ khác nhau cũng không ít. Hiện tượng một âm vị có phần giống nhau giữa các ngôn ngữ lại được ghi bằng những con chữ khác nhau; có con chữ ở ngôn ngữ này dùng để ghi âm âm vị này, nhưng ở ngôn ngữ khác lại dùng để ghi âm âm vị khác là khá phổ biến. Điều đáng tiếc nhất là những hệ thống chữ viết mới được nhiều tỉnh, thành đầu tư xây dựng sau này, đặc biệt là từ sau ngày đất nước thống nhất, cũng rơi vào tình trạng tương tự. Việc làm này vừa gây tốn kém, vừa làm chậm tiến độ xây dựng các bộ chữ cho các dân tộc thiều số chưa có chữ viết (hoặc chưa có chữ viết Latin hoá). Đã đến lúc phải có cách làm khoa học hơn, căn cơ hơn. Cách giải quyết của nhà nghiên cứu Hoàng Thị Châu là thoả đáng; đó là chỉ cần cải tiến những điều bất hợp lý của chữ quốc ngữ (như những chữ không phải ánh đúng âm; hai, ba chữ cái khác nhau để ghi một âm...) và bổ sung thêm một số ký hiệu để ghi những âm của các ngôn ngữ DTTS mà tiếng Việt không có.
4.2 Mặc dù thời gian qua Nhà nước đã có nhiều cố gắng để xây dựng chữ viết, xây dựng chương trình giáo dục song ngữ cho nhiều cộng đồng dân tộc ít người tại Việt Nam, nhưng hiệu quả đạt được là chưa tương xứng với công sức, kinh phí bỏ ra. Ngoài nguyên nhân là việc xây dựng chữ viết thiếu kế hoạch chung, mỗi nơi làm một cách, còn một nguyên nhân nữa hết sức quan trọng. Đó là quan điểm không đúng về việc dạy chữ, dạy tiếng cho các dân tộc ít người trong không ít cán bộ. Một số người cho rằng việc dạy tiếng, học tiếng dân tộc chỉ nhằm mục đích cuối cùng là giúp cho bà con học tiếng Việt - tiếng phổ thông - tốt hơn. Không thể phủ nhận một thực tế là trong chiến tranh, nhiều cán bộ, trí thức người dân tộc và người Việt đã dùng tiếng Việt phiên âm tiếng dân tộc để học tiếng và sau đó, dạy chữ Quốc ngữ cho bà con. Nhiều cán bộ, thanh niên dân tộc ít người nhờ đó mà được xoá mù chữ. Một thực tế khác là do loại hình ngữ âm của nhiều ngôn ngữ ở Việt Nam không khác nhau lắm, và tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ nhà nước, nên hầu hết các bộ chữ, kể cả những bộ chữ xây dựng đã lâu, cũng cố gắng để tạo sự gần gũi với tiếng Việt trong cách ghi âm. Nhưng những thực tế đó không có nghĩa là xây dựng chữ viết, xây dựng chương trình giáo dục song ngữ cho đồng bào thiểu số chỉ để giúp cải thiện tiếng Việt của bà con. Thật ra, cứu cánh của việc đẩy mạnh việc học chữ, học tiếng bản ngữ của bà con dân tộc thiểu số là nhằm giúp bà con hiểu biết hơn, qua đó bảo tồn và phát huy nền văn hoá của dân tộc mình tốt hơn. Thời gian qua, nhiều giá trị văn hoá, tinh thần của các dân tộc thiểu số đã bị mai một hoặc không được phát huy do không có chữ viết để ghi lại, không được phổ biến cũng như giảng dạy trong nhà trường. Chương trình song ngữ tại một số trường phổ thông dân tộc dạy cả 2 ngôn ngữ: Lớp 1 dạy chữ và tiếng dân tộc thiểu số, lớp 2 thêm môn tiếng Việt. Và các lớp sau, lớp 3, lớp 4, lớp 5 tăng dần các môn học khác và các môn này thường chỉ dạy bằng tiếng Việt. Cách làm này khiến chữ và tiếng dân tộc không phát huy được vai trò của nó, và dễ bị lãng quên sau khi học sinh nắm
2. 54 dân tộc đang sinh sống trên đất nước Việt Nam đều có tiếng nói riêng, hơn 50% dân tộc có chữ viết riêng, trong đó có những hệ thống chữ viết cổ lẫn những hệ thống chữ viết mới được xây dựng theo mẫu tự Latin. Các hệ thống chữ Khmer, Chăm, Thái có nguồn gốc từ chữ Pali, Sanskrit ở miền Nam Ấn Độ. Chữ Nôm Tày, Nôm Nùng, Nôm Dao, Nôm Cao Lan,... được xây dựng từ chữ Hán. Những hệ thống chữ viết vừa nêu chủ yếu được thể hiện trong các văn bản cổ và chỉ có một số ít người lớn tuổi có thể đọc được, viết được.
Ở miền Bắc, khoảng 20 hệ thống chữ viết mới được xây dựng vào cuối thế Kỷ XIX đến nay theo hệ thống chữ Latin (chữ Roman), và hầu hết đều theo cách ghi của chữ Quốc ngữ Latin. Sở dĩ có hiện tượng dựa theo cách ghi của tiếng Việt vì chữ Quốc ngữ Latin là một hệ thống chữ viết ghi âm cũng mới được hình thành vào giữa thế kỷ XVII, khá thuận lợi để ghi âm các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, âm tiết tính và có thanh điệu. Tuy nhiên mới chỉ có ba hệ thống chữ viết thuộc loại này được chính thức công nhận để phổ cập ở miền Bắc: chữ Tày–Nùng, chữ Hmông, chữ Thái Latin hoá.
Ở miền Nam, các nhà khoa học Pháp, Hoa Kỳ, Nga, Việt Nam từ thế kỷ XIX đến nay đã cố gắng xây dựng nhiều bộ chữ viết theo hệ thống chữ Latin và phần lớn cũng dựa trên cơ sở cách ghi của tiếng Việt. Từ năm 1861, các giáo sĩ người Pháp đã xây dựng hệ thống chữ Bahnar. Tiếp theo là 2 bộ chữ Jarai (1918) và Êđê (1923) giống bộ chữ Bahnar. Ngày 2.12.1935, Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định công nhận hệ thống chữ viết bằng mẫu tự Latin dùng chung cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Bộ chữ này được sửa chữa nhiều lần và thường được gọi là chữ Êđê do được dùng rộng rãi trong cộng đồng người Êđê, một trong những dân tộc có dân số đông nhất Tây Nguyên. Có thể nói bộ chữ này vừa tiếp cận với những thành tựu của ngữ âm học, vừa gần gũi với tiếng Việt. Hầu hết các hệ thống chữ viết ở khu vực phía Nam được xây dựng sau này đều dựa ít nhiều vào hệ thống chữ viết tiếng Êđê.
Ở miền Nam, từ cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Ngữ học mùa hè (Summer Institute of Linguistics - SIL) của Mỹ bắt đầu khảo sát ngôn ngữ các dân tộc thiểu số từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào. Kết quả của chương trình nghiên cứu này là hàng loạt sách dạy tiếng, sách công cụ, Kinh thánh bằng các tiếng dân tộc như Êđê, Chăm, Raglai, Churu, Jrai, Kơho, Mnông, Stiêng, Mạ, Chrau, Sedang, Bru – Vân Kiều,... được phổ biến. Nhiều lớp đào tạo giáo viên dân tộc thiểu số được tổ chức. Tháng 10.1963, SIL phối hợp với Bộ Giáo dục chính quyền Sài Gòn và Trường Đại học Dakota (Mỹ) nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền Nam với mục đích biên soạn chương trình giáo dục song ngữ trong các cộng đồng dân tộc thiểu số. SIL đã triển khai mạnh mẽ dự án “Song ngữ: một nhịp cầu nối liền hai nền văn hoá Kinh - Thượng”. Ở các tỉnh thành tại miền Nam, tiêu biểu là tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nhiều chương trình giáo dục song ngữ tiếng Việt – tiếng dân tộc thiểu số đã được triển khai từ lớp vỡ lòng đến tiểu học. 22 ngôn ngữ dân tộc thiểu số, trong đó có nhiều ngôn ngữ Môn - Khmer (Sedang, Halang, Jeh, Bahnar, Kơho, Mnông, Stiêng, Chrau, Katu, Bru) và Malayo – Polynesian (Chăm, Êđê, Jarai, Churu, Raglai, Hroi) đã xây dựng được chương trình giáo dục song ngữ. Có thể nói đây là thời gian mà các chương trình giáo dục song ngữ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số được tiến hành rầm rộ nhất tại Việt Nam và thu được những kết quả khích lệ. Để có được những ngữ liệu chính xác trong thời gian nhanh nhất, SIL cử 1 – 2 nhà nghiên cứu cùng ăn, cùng ở với bà con để khảo sát sâu một ngôn ngữ trên tất cả các bình diện ngữ âm, từ vựng – từ điển, ngữ pháp; chẳng hạn David D. Thomas – tiếng Chrau, Ralph Haupers và Lorrain Haupers – tiếng Stiêng, Kenneth D. Smith – tiếng Sedang, Richard L. Phillips – tiếng Hrê, …Ngoài việc xây dựng/cải tiến chữ viết, các nhà ngôn ngữ học của tổ chức SIL còn biên soạn rất nhiều từ điển đối chiếu tiếng dân tộc thiểu số - tiếng Việt/tiếng Anh. SIL cũng công bố nhiều công trình nghiên cứu, luận văn về ngôn ngữ dân tộc ít người tại Việt Nam trên tạp chí Mon-Khmer Studies. Năm 1975, Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam và SIL cũng chính thức chấm dứt hoạt động của mình ở đây. Các nhà ngữ học của SIL vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu của mình nhưng chủ yếu là xuất bản các công trình đã viết trước đây, và dịch/in Kinh thánh đạo Tin Lành bằng các bộ chữ Latin hoá mà họ đã xây dựng.
3. Cho đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã xây dựng được một số chương trình giáo dục song ngữ đưa vào giảng dạy trong các trường tiểu học và trường phổ thông dân tộc nội trú là: 1) Chương trình tiếng Khmer (tại các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Vĩnh Long, Cà Mau...) ; 2) Chương trình tiếng Chăm cổ truyền Akhar Thrah (tại hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận); 3) Chương trình tiếng Chăm Ja Wi (tại hai tỉnh An Giang, Tây Ninh); 4) Chương trình tiếng Hoa (tại Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Bạc Liêu...); 5) Chương trình tiếng Êđê (tại tỉnh Đắc Lắc); 6) Chương trình tiếng Jarai (tại tỉnh Gia Lai); 7) Chương trình tiếng Bahnar (tại các tỉnh Kon Tum, Gia Lai); 8) Chương trình tiếng Kơho (tại tỉnh Lâm Đồng) ; 9) Chương trình tiếng Hmông (tại các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu). Việc dạy và học tiếng dân tộc trong các trường phổ thông dân tộc nội trú dù còn nhiều khó khăn song bước đầu đã đào tạo được một số lượng khá lớn học sinh dân tộc thiểu số biết sử dụng cả tiếng Việt lẫn tiếng mẹ đẻ. Các học sinh này sau khi tốt nghiệp là những hạt nhân tích cực trong các hoạt động thông tin, giáo dục,…. Họ cũng đóng góp tích cực vào việc sưu tầm, tuyển chọn các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc mình, bổ sung vào kho tàng văn học dân gian của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nhiều tác phẩm văn học dân gian đã được xuất bản với sự hợp tác của các trí thức, nghệ nhân dân tộc thiểu số, được in bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc hoặc song ngữ. Nhiều tờ báo được in, nhiều đài phát thanh, đài truyền hình phát sóng bằng tiếng dân tộc đã tạo điều kiện thuận lợi để phổ biến và phát triển các ngôn ngữ này. Các đài phát thanh, đài truyền hình quốc gia ngày càng có thêm nhiều các chương trình bằng tiếng dân tộc thiểu số. Hiện nay, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát thanh các tiếng dân tộc Hoa, Khmer, Chăm, Mông, Bahnar, Thái,...Từ năm 2006, Đài Tiếng nói Việt Nam triển khai dự án mở rộng mạng phủ sóng phát
thanh các chương trình văn hóa - xã hội và các chương trình bằng tiếng dân tộc khu vực trung du miền núi Bắc Bộ. Ban Truyền hình dân tộc (chương trình VTV5) cũng đã phát nhiều thứ tiếng là Hoa, Khmer, Chăm, Hmông, Thái, Êđê, Sedang,... chưa kể hàng chục chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc trên các đài phát thanh, truyền hình của các địa phương. Có thể thấy, cùng với chữ viết phổ thông (chữ Quốc ngữ), chữ viết các dân tộc anh em đang chứng tỏ vai trò của mình tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc, xây dựng cuộc sống mới, phổ biến kiến thức trồng trọt, chăn nuôi, vệ sinh, bảo vệ
rừng,...
4. Thông qua tình hình xây dựng và phổ biến chữ viết của các dân tộc thiểu số hiện nay ở cả hai miền Nam, Bắc, chúng tôi thấy có một số vấn đề đáng lưu ý như sau:
4.1 Hê thống ngữ âm của các ngôn ngữ thiểu số đang được sử dụng tại Việt Nam là tương đối giống nhau. Ngay sự khác biệt giữa các ngôn ngữ ở miền Bắc và miền Nam cũng không phải là quá lớn (về cơ bản, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền Bắc chủ yếu là đơn tiết, có thanh điệu; ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở miền Nam chủ yếu là đa tiết, chưa hoặc gần như chưa có thanh điệu, và có nhiều tổ hợp phụ âm). Thế nhưng, do không có sự điều phối chung nên nảy sinh hiện tượng “trăm hoa đua nở” trong việc xây dựng chữ viết cho các ngôn ngữ dân tộc thiểu số! Hầu như mỗi ngôn ngữ có một hệ thống chữ viết riêng. Các bộ chữ này có chỗ giống nhau, nhưng chỗ khác nhau cũng không ít. Hiện tượng một âm vị có phần giống nhau giữa các ngôn ngữ lại được ghi bằng những con chữ khác nhau; có con chữ ở ngôn ngữ này dùng để ghi âm âm vị này, nhưng ở ngôn ngữ khác lại dùng để ghi âm âm vị khác là khá phổ biến. Điều đáng tiếc nhất là những hệ thống chữ viết mới được nhiều tỉnh, thành đầu tư xây dựng sau này, đặc biệt là từ sau ngày đất nước thống nhất, cũng rơi vào tình trạng tương tự. Việc làm này vừa gây tốn kém, vừa làm chậm tiến độ xây dựng các bộ chữ cho các dân tộc thiều số chưa có chữ viết (hoặc chưa có chữ viết Latin hoá). Đã đến lúc phải có cách làm khoa học hơn, căn cơ hơn. Cách giải quyết của nhà nghiên cứu Hoàng Thị Châu là thoả đáng; đó là chỉ cần cải tiến những điều bất hợp lý của chữ quốc ngữ (như những chữ không phải ánh đúng âm; hai, ba chữ cái khác nhau để ghi một âm...) và bổ sung thêm một số ký hiệu để ghi những âm của các ngôn ngữ DTTS mà tiếng Việt không có.
4.2 Mặc dù thời gian qua Nhà nước đã có nhiều cố gắng để xây dựng chữ viết, xây dựng chương trình giáo dục song ngữ cho nhiều cộng đồng dân tộc ít người tại Việt Nam, nhưng hiệu quả đạt được là chưa tương xứng với công sức, kinh phí bỏ ra. Ngoài nguyên nhân là việc xây dựng chữ viết thiếu kế hoạch chung, mỗi nơi làm một cách, còn một nguyên nhân nữa hết sức quan trọng. Đó là quan điểm không đúng về việc dạy chữ, dạy tiếng cho các dân tộc ít người trong không ít cán bộ. Một số người cho rằng việc dạy tiếng, học tiếng dân tộc chỉ nhằm mục đích cuối cùng là giúp cho bà con học tiếng Việt - tiếng phổ thông - tốt hơn. Không thể phủ nhận một thực tế là trong chiến tranh, nhiều cán bộ, trí thức người dân tộc và người Việt đã dùng tiếng Việt phiên âm tiếng dân tộc để học tiếng và sau đó, dạy chữ Quốc ngữ cho bà con. Nhiều cán bộ, thanh niên dân tộc ít người nhờ đó mà được xoá mù chữ. Một thực tế khác là do loại hình ngữ âm của nhiều ngôn ngữ ở Việt Nam không khác nhau lắm, và tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ nhà nước, nên hầu hết các bộ chữ, kể cả những bộ chữ xây dựng đã lâu, cũng cố gắng để tạo sự gần gũi với tiếng Việt trong cách ghi âm. Nhưng những thực tế đó không có nghĩa là xây dựng chữ viết, xây dựng chương trình giáo dục song ngữ cho đồng bào thiểu số chỉ để giúp cải thiện tiếng Việt của bà con. Thật ra, cứu cánh của việc đẩy mạnh việc học chữ, học tiếng bản ngữ của bà con dân tộc thiểu số là nhằm giúp bà con hiểu biết hơn, qua đó bảo tồn và phát huy nền văn hoá của dân tộc mình tốt hơn. Thời gian qua, nhiều giá trị văn hoá, tinh thần của các dân tộc thiểu số đã bị mai một hoặc không được phát huy do không có chữ viết để ghi lại, không được phổ biến cũng như giảng dạy trong nhà trường. Chương trình song ngữ tại một số trường phổ thông dân tộc dạy cả 2 ngôn ngữ: Lớp 1 dạy chữ và tiếng dân tộc thiểu số, lớp 2 thêm môn tiếng Việt. Và các lớp sau, lớp 3, lớp 4, lớp 5 tăng dần các môn học khác và các môn này thường chỉ dạy bằng tiếng Việt. Cách làm này khiến chữ và tiếng dân tộc không phát huy được vai trò của nó, và dễ bị lãng quên sau khi học sinh nắm
Anh có sách học tiếng Stiêng không cho em xin ạ
Trả lờiXóa