1. HỆ THÔNG CHỮ VIẾT TIẾNG STIÊNG ĐẦU TIÊN:
Những năm 50 của
thế Kỷ XIX, các giáo sĩ người Pháp đã bắt đầu thâm nhập khu vực Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ để truyền đạo. Để có thể tiếp cận bà con các dân tộc ở đây, họ đã học
tiếng và sử dụng hệ thống chữ viết Latin để ghi âm các ngôn ngữ này. Việc xây dựng
chữ viết tiếng Stiêng cũng ở trong tình hình như vậy. Có thể xem R.P.H. Azémar
là người đầu tiên xây dựng bộ chữ viết tiếng Stiêng. Cuốn Dictionaire
Stieng, Rucueil de 2500 Mots (1887) không chỉ là tác phẩm đầu tiên, từ điển
đầu tiên mà đồng thời cũng là văn bản in đầu tiên bằng tiếng Stiêng. Theo từ điển
này, tiếng Stiêng có 52 phụ âm và nguyên âm được ghi bằng các con chữ sau: b,
ch, d, f, g, h, j, k, kh, l, m, n, ng, nh, p, r, s, t, th, v (20 phụ âm); a, à,
ă, e, ĕ, ê, ê̆, i, ì, ĭ, o, ŏ, ô, ô̆, ơ, ơ̆, u, ù, ŭ, ư (20 nguyên âm đơn);
ai, ahi, âu, êi, iê, iêu, ôê, ôu, ơi, ua, ue, ui (12 nguyên âm đôi).
2. HỆ THỐNG CHỮ VIẾT TIẾNG STIÊNG THỨ HAI:
Sau R.P.H.
Azémar, Hội Ngữ học mùa Hè đã xây dựng phương án chữ viết riêng cho các ngôn ngữ
thuộc nhóm Nam Bahnar (gồm Kơho, Mnông, Chrau, Stiêng). Phương án này được thể
hiện khá rõ trong các sách học tiếng Stiêng, Kơho, Chrau. Chuyên gia nghiên cứu
tiếng Stiêng là Ralph Haupers thuộc tổ chức này đã có rất nhiều công trình về
tiếng Stiêng như Stieng Phonemes (1968), Nói tiếng Sơdiêng
(Stieng Phrase Book) (1968), chung với Điểu ‘Bi, Stiêng-English
Dictionary (1991) chung với vợ của ông, bà Lorraine Haupers. Về đại thể,
phương án này có kế thừa phương án chữ viết Êđê đang rất phổ biến ở Tây Nguyên.
Bên cạnh đó cũng có một số khác biệt; cụ thể là:
- Dùng con chữ
ch để ghi âm /c/ thay vì con chữ c̆;
- Dùng con chữ
‘b để ghi âm /ʔb/ thay vì con chữ ƀ, ‘j để ghi âm /ʔj/;
- Đặt thêm một
số con chữ để ghi các phụ âm trải gián đoạn 3 như m- /ʔm/,
n- /ʔn/,
l- /ʔl/.
- Không dùng dấu
ngắn ( ̆ ) đặt trên các nguyên âm ngắn mà phân biệt trường độ ngắn/dài của
nguyên âm bằng cách dùng một ký tự để ghi nguyên âm ngắn và hai kí tự để ghi
nguyên âm dài. Theo Ralph Haupers, tiếng Stiêng 49 âm vị phụ âm và nguyên âm,
được ghi như sau: i, ê, e, ư, ứ, ơ, a, u, ô, o (10 nguyên âm ngắn); iê, êê, ee,
ưứ, ươ, ơơ, aa, uô, ôô, oo (10 nguyên âm dài); ph, th, chh, kh, p, t, ch, k, b,
d, j, g, ‘b, đ, ‘j, m, n, nh, ng, m-, n-, l-, w, r, l, y, s, h, q (29 phụ âm).
Có thể xem đây là hệ thống chữ viết thứ hai của tiếng Stiêng, sau bộ chữ do
R.P.H Azémar đề nghị vào những năm 80 của thế kỷ XIX.
x
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét